VietGAP Tp.HCM

Yêu cầu chung khi sản xuất nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ là việc sản xuất dựa trên tiêu chuẩn các nguyên tắc quy định bởi IFOAM (Liên đoàn các phong trào canh tác nông nghiệp hữu cơ Quốc tế). Mục tiêu của nguyên tắc này là các hệ sinh thái cây trồng, vật nuôi được đảm bảo và tạo ra các sản phẩm chất lượng an toàn cho người sử dụng. Ngoài ra, canh tác theo nông nghiệp hữu cơ còn mang lại hiệu quả trong kinh tế, duy trì và gia tăng độ màu mỡ lâu dài cho đất. Đây là phương pháp trồng rau, củ, quả không sử dụng bất kì loại hóa chất độc hại trong bảo vệ thực vật để trừ sâu, bệnh, cỏ dại cũng như phân hóa học, sản xuất hướng đến sự cân bằng sinh thái trong tự nhiên.

Sản phẩm rau, củ, quả hữu cơ (Nguồn Internet)

Năm 2017 Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 11041-1:2017, phần 1 – Yêu cầu chung đối với sản xuất, chế biến, ghi nhãn sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Theo đó một số yêu cầu chung khi sản xuất nông nghiệp hữu cơ (gọi tắt là SXHC) như sau:

  • Khu vực sản xuất:

Khu vực SXHC phải có ranh giới rõ ràng và phải đáp ứng quy định pháp luật về điều kiện SXHC.

Sản xuất rau hữu cơ (Nguồn Internet)
  • Chuyển đổi sang SXHC:

Khu vực sản xuất sản phẩm trồng trọt hữu cơ và đồng cỏ hoặc vùng đất dự kiến dùng để trồng cây làm thức ăn trong chăn nuôi hữu cơ cần thực hiện giai đoạn chuyển đổi từ sản xuất thông thường sang SXHC.

  • Duy trì SXHC:

cơ sở sản xuất phải duy trì hệ thống SXHC. Không được chuyển đổi qua lại giữa SXHC và sản xuất thông thường, trừ khi có lý do thích hợp để chấm dứt quản lý hữu cơ trên đất đang canh tác hữu cơ và trong những trường hợp yêu cầu chuyển đổi được áp dụng.

  • Sản xuất riêng rẽ và sản xuất song song (sản xuất theo phương pháp hữu cơ và các phương pháp khác):

Các vùng đang và đã chuyển đổi sang SXHC không được xen lẫn giữa các phương thức SXHC và phương thức sản xuất không hữu cơ (sản xuất thông thường).

  • Quản lý hệ sinh thái và đa dạng sinh học:

Việc SXHC không được thực hiện bất kỳ hoạt động nào có tác động tiêu cực đến các khu bảo tồn đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận, ví dụ khu bảo tồn động vật hoang dã, rừng đầu nguồn.

Sản xuất hữu cơ duy trì hoặc tăng cường đa dạng sinh học đối với các trang trại, trong mùa vụ và khi thích hợp, ở những nơi không phải môi trường sống của cây trồng.

  • Phòng ngừa ô nhiễm:

Trong SXHC, nói chung không sử dụng đầu vào là vật tư tổng hợp trong tất cả các giai đoạn của chuỗi sản xuất/cung ứng hữu cơ và không được để người và môi trường xung quanh phơi nhiễm với các hóa chất độc hại; giảm thiểu ô nhiễm từ các hoạt động sản xuất, chế biến đến cơ sở và môi trường xung quanh.

Quản lý hữu cơ phải có biện pháp phòng ngừa để tránh ô nhiễm có thể ảnh hưởng đến tính toàn vẹn hữu cơ của chuỗi cung ứng.

Phải có biện pháp xử lý các nguy cơ gây ô nhiễm. Nếu nghi ngờ có sự ô nhiễm, phải nhận diện và giải quyết nguồn gây ô nhiễm. Cần phân tích trong trường hợp có nguy cơ cao khi xác định được việc sử dụng hoặc nhiễm các chất cấm.

Sau khi xác định được chất thải và chất gây ô nhiễm, phải xây dựng và thực hiện kế hoạch để tránh hoặc giảm chất thải và chất ô nhiễm bằng cách tái chế chất thải. Chất thải không tái chế được như pin, chất dẻo và các chất khác phải được xử lý đúng cách để tránh làm ô nhiễm trang trại nông nghiệp hữu cơ.

  • Các công nghệ không thích hợp

Không sử dụng các công nghệ chưa được kiểm chứng và không có lợi cho hệ thống hữu cơ.

Các hệ thống sản xuất hữu cơ không sử dụng tất cả các nguyên vật liệu hoặc sản phẩm có nguồn gốc GMO (Sinh vật biến đổi gen) ở tất cả các giai đoạn SXHC.

Không sử dụng bức xạ ion hóa (chiếu xạ) để kiểm soát sinh vật gây hại.

Không sử dụng các vật liệu nano (bao gồm cả các bề mặt tiếp xúc với sản phẩm) trong SXHC.

  • Các chất được phép sử dụng trong SXHC:

Chỉ sử dụng các chất được phép sử dụng trong SXHC.

  • Sơ chế, chế biến:

Nên dùng các phương pháp sơ chế, chế biến cơ học, vật lý hoặc sinh học (ví dụ: lên men và xông khói) và giảm thiểu việc dùng các chất không có nguồn gốc nông nghiệp và các phụ gia.

Quá trình sơ chế, chế biến sản phẩm nông nghiệp hữu cơ không sử dụng tất cả các nguyên vật liệu và/(hoặc) sản phẩm (bao gồm cả phụ gia và chất hỗ trợ chế biến) có nguồn gốc GMO.

Không sử dụng bức xạ ion hóa (chiếu xạ) để kiểm soát sinh vật gây hại, bảo quản thực phẩm và loại bỏ vi sinh vật gây bệnh hoặc vì mục đích vệ sinh.

Không sử dụng các vật liệu nano (bao gồm cả các bề mặt tiếp xúc với sản phẩm) trong sơ chế, chế biến sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, ngoại trừ các phần tử có kích thước nano xuất hiện tự nhiên do các quá trình chế biến như nghiền bột.

Chỉ sử dụng các chất được phép sử dụng trong chế biến sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.

  • Bao gói:

Nên chọn vật liệu bao gói từ các nguồn có thể phân hủy bằng sinh học, được tái sinh hoặc có thể tái sinh. Không sử dụng các vật liệu nano (bao gồm cả các bề mặt tiếp xúc với sản phẩm) để bao gói sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.

  • Ghi nhãn:

Sản phẩm đã được chứng nhận phù hợp với tiêu chuẩn hữu cơ mới được ghi nhãn liên quan đến phương pháp hữu cơ.

Việc ghi nhãn nhằm xác định sản phẩm là “hữu cơ” và cung cấp thông tin liên quan để người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm và tránh gây hiểu nhầm.

  • Bảo quản và vận chuyển:

Mức độ nguyên vẹn của sản phẩm phải được duy trì trong suốt quá trình bảo quản, vận chuyển và xử lý bằng cách dùng các biện pháp phòng ngừa.

  • Ghi chép, lưu giữ hồ sơ, truy xuất nguồn gốc và thu hồi sản phẩm:

Việc lưu giữ hồ sơ nhằm đảm bảo truy xuất được tính toàn vẹn trong toàn bộ hoạt động hữu cơ và khả năng thu hồi sản phẩm bằng cách theo dõi dữ liệu sản xuất (ví dụ: dữ liệu về nguyên liệu, vật tư đầu vào) và số lượng của từng bước trong chuỗi cung ứng, bao gồm cả việc bán hàng.

Mai Thư

Bạn cũng có thể thích